slogan của trung tâm gia sư Hà Nội Giỏi
Gioi thieu trung tâm gia sư Quy trinh dich vu Che do cham soc dich vu Hoi dap dich vu Dang ky dich vu

Nghị luận bài thơ “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu

Nghị luận bài thơ “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu

 

  • Dàn ý nghị luận bài thơ “Phú sông Bạch Đằng”
  • Mở bài

 

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: bài thơ “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu.

 

  • Thân bài
  • Giới thiệu tác giả, tác phẩm

 

  • Tác giả: Trương Hán Siêu bản tính cương trực, học vấn uyên bác lại giàu lòng yêu nước, được cả nhà vua và triều thần đời Trần tin tưởng.
  • Tác phẩm:
  • Thể phú: dùng lối đối đáp chủ – khách để nói lên nội dung, thường có vần, đôi khi xen lẫn văn vần và văn xuôi.
  • Nội dung: ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ của sông Bạch Đằng và gợi lại các chiến công lừng lẫy ở địa danh này.

 

  • Giới thiệu và tâm trạng nhân vật khách khi đến với bờ sông Bạch Đằng

 

*Giới thiệu về nhân vật khách:

  • “Khách”: là cách tự xưng của tác giả.
  • Chân dung của một con người với tư thế ung dung để thu vào mình tất cả sự mênh mông của đất trời.
  • Nhịp tự do, câu dài ngắn đan xen, như con thuyền khi chậm chậm thưởng ngoạn, lại như khi lướt băng băng trên sóng Bạch Đằng.
  • Không gian khoáng đạt với gió, trăng, bể.

=> Hình ảnh thiên nhiên kì vĩ cho thấy tâm hồn khao khát tự do mãnh liệt của khách.

  • Khách chủ động hòa mình vào với thiên nhiên chứ không hề nhỏ nhoi giữa không gian kì vĩ.
  • Cách nói ước lệ: các địa danh Nguyên Tương, Vũ Hiệp tuy cách xa nhau nhưng khách có thể đến trong một sớm một chiều => Liên tưởng khách có thể đến qua sách vở.
  • Còn có các địa danh nước Việt: Đông Triều, sông Bạch Đằng -> không gian sông nước rộng mênh mang. 
  • Liệt kê đại danh, so sánh: khách muốn đi khắp nơi và tạo tâm thế cho người đọc chuẩn bị đón nhận sông Bạch Đằng.

* Cảnh sông Bạch Đằng và tâm trạng của nhân vật khách:

  • Thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ.
  • “Sóng kình muôn dặm: địa thế hiểm trở của sông Bạch Đằng.
  • “Đuôi trĩ một màu”: hình ảnh những con thuyền nối nhau trên sông.
  • Thiên nhiên thơ mộng, trữ tình:
  • Thời gian: “ba thu”
  • “Nước trời một sắc”: trời và đất cùng chung một màu xanh.
  • Thiên nhiên hoang vu, hẻo lánh:
  • Từ láy “san sát”, “đìu hiu”: khung cảnh đầy lá lách, lau sợ
  • Hình ảnh “giáo gãy”, “xương khô”: chốn tử của quân giặc xưa.
  • Tâm trạng của nhân vật khách:
  • Buồn thương cho sự đổi thay của cảnh vật.
  • Tư thế: “đứng lặng giờ lâu” => lòng tiếc nuối ngậm ngùi.

=> Giọng điệu thơ linh hoạt, khi thì hào sảng, khi nặng trĩu ưu tư.

 

  • Lời kể của các bô lão về chiến công trên sông Bạch Đằng

 

  • “Bô lão”: những bậc cao niên, là nhân chứng lịch sử quan trọng.
  • Thái độ của bô lão với khách: nhiệt tình, trân trọng.
  • Qua lời kể của các bô lão: sông Bạch Đằng là nơi ghi dấu bao chiến công chói lọi.
  • Cảnh thủy chiến: địch lắm mưu nhiều kế, ta chính nghĩa thuận trời.

=> Cách miêu tả chiến sự ác liệt qua hình  ảnh giàu tính gợi cảm.

  • Sử dụng tích xưa, so sánh với những trận đánh lớn: khẳng định chiến công vang dội của ta.
  • Câu dài xen lẫn những câu ngắn với điển cố: gây cảm giác hồi hộp với người nghe.
  • Khẳng định nguyên nhân chiến thắng: địa linh nhân kiệt, vai trò của Trần Hưng Đạo.

=> Thể hiện sự tôn trọng của vua Trần với những bề tôi trung thành.

=> Khẳng định tình yêu nước cùng lòng tự tôn dân tộc.

 

  • Suy ngẫm về sự hưng vong của dân tộc

 

  • Lời của bô lão: 
  • Sông Bạch Đằng: mênh mông, hiểm trở.
  • Khái quát nên quy luật của con người: sông đổ về biển, bất nghĩa sẽ lưu vong, anh hùng sẽ lưu danh thiên cổ.
  • Lời của khách: 
  • Ca ngợi dòng sông lịch sử.
  • Ca ngợi tài năng hai vị thánh quân: Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông.
  • Ca ngợi cuộc sống an yên.
  1. Kết bài

Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của “Bạch Đằng giang phú”

 

  1. Bài văn nghị luận “Phú sông Bạch Đằng”
  1. Mở bài

Bốn nghìn năm lịch sử là bốn nghìn năm văn hiến, bốn nghìn năm với bao máu và nước mắt để đổi lấy những ngày độc lập, tự do. Biết bao di tích đã vinh dự ghi lại những ngày tháng hào hùng ấy và Bạch Đằng giang là một trong số ít những dòng sông như vậy. Ba lần đánh tan quân Nguyên Mông đã quá đủ để dòng sông anh hùng này có quyền tự hào về mình. Hiểu điều đó, Trương Hán Siêu đã viết lên những áng văn bất hủ trong bài “Bạch Đằng giang phú”. Bài thơ tựa một bản tấu chương nhắc nhớ về bao chiến công hào sảng một thời.

 

  • Thân bài

 

Trương Hán Siêu vốn là một danh sĩ thời Trần, bản tính cương trực, học vấn uyên bác lại giàu lòng yêu nước, được cả nhà vua và triều thần đời Trần tin tưởng. Bài “Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đây là thể thơ dùng lối đối đáp chủ – khách để nói lên nội dung, thường có vần, đôi khi xen lẫn văn vần và văn xuôi. Màu sắc trữ tình và yếu tố khoa trương luôn đậm đặc trong phú. Cả bài thơ là áng tuyệt bút ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ của sông Bạch Đằng và gợi lại các chiến công lừng lẫy ở địa danh này. Trương Hán Siêu đã dõng dạc khẳng định: núi sông trùng trùng, muộn vị anh hùng hào kiệt đã tạo nên truyền thống anh hùng dân tộc, sự bền vững muôn đời của dân tộc. Thông qua đó, tác giả cũng đồng thời đề cao vị trí và vai trò của con người trong lịch sử, truyền tải giá trị nhân văn sâu sắc.

Trước hết là những vần thơ giới thiệu và nêu lên tâm trạng nhân vật khách khi đến với bờ sông Bạch Đằng. Cảm xúc của nhân vật khách trước cảnh đẹp tráng lệ của sông Bạch Đằng dần được mở ra:

Khách có kẻ:

Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết.

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.”

“Khách” hay chính là cách tự xưng của tác giả, là nhân vật trữ tình. Trương Hán Siêu vốn dĩ là người mang trong mình học vấn uyên thâm nhưng cũng rất phóng khoáng, luôn hết mình với thiên nhiên đất trời. Bởi thế chân dung ông trong bài thơ cũng là chân dung của một con người với tư thế ung dung để thu vào mình tất cả sự mênh mông vạn vật. Nhịp thơ theo lối tự do, câu dài ngắn đan xen, như con thuyền khi chậm chậm thưởng ngoạn, lại như khi lướt băng băng trên sóng Bạch Đằng. Vị khách này thể hiện rõ ra là một kẻ đi nhiều nơi nhưng tất cả hình ảnh ở đây vốn chỉ mang vẻ tượng trưng cho cá tính lấy việc ngao du xuân thủy làm thú vui, vênh mặt với đời về thú giang hồ của mình… Không gian khoáng đạt với gió, trăng, bể cũng dần mở ra, cho thấy sự kì vĩ của thiên nhiên mà ẩn sau đó là tâm hồn khao khát tự do mãnh liệt của khách. Đêm thì vui chơi mải miết với trăng già, ngày vui vẻ gõ thuyền chừ Nguyên Tương, chiều lại thăm chừ Vũ Huyệt. Ở đây, khách chủ động hòa mình vào với thiên nhiên chứ không hề có chút vẻ nhỏ nhoi giữa không gian kì vĩ. Các địa danh: Nguyên Tương, ngữ Hồ… xuất hiện đều lấy trong sử sách Trung Quốc. Cách nói ước lệ được thể hiện ở chỗ tuy cách xa nhau nhưng khách có thể đến trong một sớm một chiều nên chắc hẳn khách đây qua sách vở. Qua đó ta có thể thấy những danh lam thắng cảnh ở xứ Người dường như rất khó lọt vào mắt xanh của người. Nhưng khi đặt chân đến các địa danh nước Việt như Đông Triều, sông Bạch Đằng – những không gian sông nước rộng mênh mang – thì xúc cảm lại có đôi phần khác biệt:

Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều,

Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều.”

Con sông Bạch Đằng muôn đời muôn kiếp vẫn dài và rộng, dịu êm và ồn ã từng đợt sóng biếc như thế. Một loạt phép liệt kê đại danh cùng so sánh được thể hiện ra nhằm chỉ rõ  khách muốn đi khắp nơi và tạo tâm thế cho người đọc chuẩn bị đón nhận sông Bạch Đằng. Không phải những địa danh xứ người mà là con sông gần gũi, quen thuộc gợi ra niềm tự hào thầm kín nhất. Cảnh sông dần mở ra chân thực và đặc sắc…

Cảnh sông Bạch Đằng và tâm trạng của nhân vật khách hiển hiện:

Bát ngát sóng kình muôn dặm,

Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu.

Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô

Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”

Sự đối lập sâu sắc giữa động và tĩnh, giữa thực và hư, giữa hiện tại và quá khứ càng rõ nét. Thiên nhiên cũng vì thế mà mang nhiều sắc thái khác nhau: khi thì hùng vĩ, tráng lệ; khi thì thiên nhiên thơ mộng, trữ tình; khi lại hoang vu, hẻo lánh. Trước hết, vẻ hùng vĩ của Bạch Đằng Giang được thể hiện rõ qua các hình ảnh: địa thế hiểm trở với “sóng kình muôn dặm”, những con thuyền nối nhau liên tiếp tựa “đuôi trĩ một màu”. Ngôn ngữ khoáng đạt góp phần làm nên giá trị của áng thơ. Thiên nhiên từ đây cũng được miêu tả trên một khía cạnh khác: thơ mộng, trữ tình. Thời gian được nhận định rõ tại cụm từ “ba thu”. Ý thơ “Nước trời một sắc” dường như mượn một hình ảnh của Vương Tử Bột ở bài “Đằng Vương các”: “Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc” (Sông thu cùng với trời xa một màu). Cảnh núi non, bờ bãi dựng lại cảnh chiến trường rùng rợn một thời với một loạt từ láy “san sát”, “đìu hiu”. Khung cảnh đầy lá lách và lau sợi, mang vẻ hoang vu, hẻo lánh ngàn năm. Núi gò, bờ bãi mênh mông như gươm giáo, xương cốt lũ giặc tử trận chất đống xưa. Nét vẽ hoành hành ấy khiến độc giả không khỏi rùng mình kinh hãi. Tâm trạng của Trương Hán Siêu đến đây đã được lột tả rõ: vừa buồn thương cho sự đổi thay của cảnh vật, vừa tiếc nuối ngậm ngùi với những ánh sử vàng đã qua, xót đau cho những vị anh hùng dân tộc đã ngã xuống. Đó chẳng phải là nghĩa tình “Uống nước nhớ nguồn” thủy chung ngàn đời hay sao?  Giọng điệu thơ thay đổi linh hoạt, khi thì hào sảng, khi nặng trĩu ưu tư.

Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện ở bài phú – bắt đầu kể về những chiến công vang dội trên sông Bạch Đằng:

“ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,

Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao

… Thuyền tàu muôn đội,

Tinh kì phấp phới.

Hùng hổ sáu quân,

Giáo gươm sáng chói.

… Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,

Bầu trời đất chừ sắp đổi”

Đây đều là những vật cao nhiên, đóng vai trò là nhân chứng lịch sử quan trọng, tăng tính xác tín cho câu chuyện. Từ việc miêu tả và trữ tình, Trương Hán Siêu chuyển sang ngôn ngữ tự sống động, biến hóa. Thái độ của bô lão với khách vô cùng nhiệt tình, trân trọng. Chỉ bằng vài lời ngắn ngủi mà không khí mịt mù khói lửa chiến tranh được hiện lên sắc nét. Qua lời kể của các bô lão, sông Bạch Đằng là nơi ghi dấu bao chiến công chói lọi. Ta và địch đều tập trung sức lực cho một trận đánh quyết tử, vang dội trời đất:

Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới,

Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói,

Trận đánh được thua chửa phân,

Chiến lũy bắc nam chống đối.”

Cảnh thủy chiến diễn tả với kẻ địch lắm mưu nhiều kế, ta thì chính nghĩa thuận trời. Nghệ thuật đối trong từng câu thơ đã nêu bật không khí chiến trận nóng bỏng. Các hình ảnh dần được tái hiện một cách gợi cảm, khiến người đời sau đọc đến đây cũng không khó để tưởng tượng bối cảnh lúc bấy giờ:

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,

Bầu trời đất chừ sắp đổi.”

Những hình tượng kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ được đặt trong tương quan đối lập: nhật nguyệt/ mờ, trời đất/ đổi đã báo hiệu một cuộc thủy chiến vang động đất trời. Trương Hán Siêu thật tàu tình khi sử dụng tích xưa, so sánh với những trận đánh lớn nhằm khẳng định chiến công vang dội của ta:

“Kìa :

Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối.

Những tưởng gieo roi một lần,

Quét sạch Nam bang bốn cõi !”

Câu dài xen lẫn những câu ngắn với điển cố gây cảm giác hồi hộp với người nghe. Nhưng có một điều quân giặc không ngờ tới đó là sức “Sát Thát” của quân đội nhà Trần vẫn luôn được bốn phương tám cõi ủng hộ. Vậy nên, thắng lợi là tất yếu. Nguyên nhân chiến thắng chính là nhờ yếu tố địa linh nhân kiệt cùng vai trò của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn:

“Thế nhưng :

Trời cũng chiều người,

Hung đồ hết lối !”

Tất cả ý thơ đều thể hiện sự tôn trọng của vua Trần với những vị tướng tài ba, với những bề tôi trung thành. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định tình yêu nước cùng lòng tự tôn dân tộc. Nước sông Bạch Đằng vẫn chảy xiết nhưng ngàn năm sau bại quân vẫn không rửa được nỗi ô nhục. Đây là bài học đắt giá cho bất cứ cuộc chiến tranh nào đi ngược lại lẽ trời, xâm phạm biên cương Đại Việt!

Lời miêu tả, tự sự dừng lại để nhường chỗ cho những suy ngẫm về sự hưng vong của dân tộc, về sự thắng bại trong trang sử dân tộc ta:

Tuy nhiên : Từ có vũ trụ, đã có giang san.

Quả là : Trời đất cho nơi hiểm trở,

Cũng nhờ : Nhân tài giữ cuộc điện an.”

Lời của bô lão từ việc sông Bạch Đằng mênh mông, hiểm trở đến khái quát nên quy luật của con người: sông đổ về biển, bất nghĩa sẽ lưu vong, anh hùng sẽ lưu danh thiên cổ. Bài thơ thần năm nào bên bờ sông như Nguyệt vẫn còn vang vọng cùng đồng điệu với lời thơ Trương Hán Siêu:

“Nam Quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

(Nam Quốc sơn hà)

Quan hệ giữa Thiên – Địa – Nhân lại một lần nữa được khẳng định: trời đất tuy giữ vai trò quan trọng nhưng chính con người mới quyết định tồn vong của một nước. Lời của khách tiếp tục ngân nga, hào sảng:

Hội nào bằng hội Mạnh Tân : như vương sư họ Lã,

Trận nào bằng trận Duy Thuỷ : như quốc sĩ họ Hàn.

Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,

Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.

Tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn.”

Bên cạnh ca ngợi dòng sông lịch sử, Trương Hán Siêu tin rằng nguồn cội của chiến thắng to lớn chính là do tài năng của hai vị thánh quân Trấn Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Năm 1287, giặc Nguyên kéo quân xâm lược lần ba bờ cõi ta, vua Trần Nhân Tông hỏi Trần Quốc Tuấn: “Giặc đến làm thế nào”. Vị đại vương của ta không ngần ngại mà trả lời rằng: “Năm nay đánh giặc nhàn.” Tưởng như khinh địch, tưởng như chủ quan nhưng đó hoàn toàn là nhận định được rút ra từ hào khí Đông A và tầm vóc anh hùng của một dân tộc đã có nhiều kinh nghiệm trong hai lần đánh đuổi quân Nguyên Mông. Và sau tất cả, tác giả không quên ca ngợi cuộc sống an yên gắn với niềm tự hào sông núi:

Sông Đằng một dải dài ghê,

Luồng to sóng lớn dồn về bể Đông

Những người bất nghĩa tiêu vong,

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Anh minh hai vị thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh

Giặc tan muôn thuở thanh bình,

Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.”

Bởi những ẩn ngữ phong phú sau lớp vỏ ngôn từ, Trương Hán Siêu đã thực sự gợi lên nhiều chiều trong cách tiếp cận của độc đời. Dưới bàn tay lão luyện của ông, thể phú thực sự đã đạt đến trình độ hoàn mĩ.

  1. Kết bài

Trương Hán Siêu tuy là một người con của truyền thống văn vật của mảnh đất Ninh Bình đẹp cả người cả cảnh nhưng ông còn là người con của cả một thời đại Thăng Long phồn hoa, ngùn ngụt khí thế rồng thiêng. Ở ông, niềm tự hào dân tộc đã trở thành ngọn đuốc to lớn thắp sáng từng câu chữ. Chữ ấy rốt cuộc chỉ để “tỏ lòng”, để thỏa ước nguyện bộc rõ hào khí non sông và “Bạch Đằng Giang phú” thực đã đạt đến ước nguyện ấy.

 

Trên đây là toàn bộ Bài văn nghị luận “Phú sông Bạch Đằng” của trung tâm. Mong rằng đây sẽ là công cụ hữu ích cho quá trình học tập của chúng mình. Mời các bạn và quý phụ huynh cùng tham khảo miễn phí kho tài liệu của trung tâm.  Chúc các em học sinh sẽ học tập tốt môn Văn với tài liệu này!

Bình Luận Facebook

bình luận

Nghị luận bài thơ “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu
Đánh giá bài viết!

Tư vấn gia sư (24/7) 097.948.1988

.

trẻ tự kỷ




Bài viết được xem nhiều nhất

Liên Kết

  • Trung tâm gia sư đại học khoa học xã hội và nhân văn
  • Trung tâm gia sư Ngoại Thương
  • Trung tâm gia sư sư phạm Hà Nội
  • Trung tâm gia sư đại học DƯợc Hà Nội
  • thao duoc hong hanh
  • gia su bach khoa
  • gia su tieu hoc
x